CPU Intel Core i5-750

User Rating: / 7
PoorBest 

 

 

Ngày 8-9-2009, Intel đã chính thức đưa ra thị trường thế hệ vi xử lý mới Intel Core i5 cho phân khúc mainstream-level dành cho người tiêu dùng rộng rãi.
Thật sự Core i5 là một phiên bản phổ cập của Core i7. Vào thời điểm ra đời (tháng 11-2008), Core i7 tên mã Bloomfield được mệnh danh là “CPU nhanh nhất hành tinh”, với nhiều cải tiến và công nghệ vượt trội so với các thế hệ CPU từ Core 2 trở về trước. Nhưng dòng vi xử lý này có giá rất đắt (con Core i7-975 Extreme Edition 3,33GHz có giá xuất xưởng tới 999 USD cho đơn hàng 1.000 sản phẩm) và chỉ thích hợp cho các hệ thống mạnh và chuyên nghiệp. Giờ đây, với dòng Core i7 và Core i5 tên mã Lynnfield, Intel sẽ tạo điều kiện cho người tiêu dùng rộng rãi được hưởng thụ các công nghệ tiên tiến mới của Core i7.

Core i5-750 là sản phẩm đầu tiên của thế hệ CPU Core i5. Nó cũng được chế tạo trên công nghệ 45nm, có 4 nhân và 8MB L3 cache (dạng SmartCache dùng chung cho tất cả các nhân). Cũng giống như Core i7, Core i5 là vi xử lý đa nhân có thiết kế nguyên khối (monolithic processor), nghĩa là tất cả 4 nhân cùng nằm chung một cách “bình đẳng” trên một die duy nhất. Ở thiết kế đa nhân của Core 2, một bộ vi xử lý 4 nhân được hình thành bằng cách gom 2 die vi xử lý 2 nhân vào chung một đóng gói. Thiết kế mới này rất lợi hại à nghen. Nhờ cùng nằm chung một die, việc liên lạc giữa các nhân với nhau sẽ có băng thông lớn và độ trễ thấp. Còn trong thiết kế cũ, khi nhân này cần làm việc với nhân nằm trên die khác, lộ trình liên lạc sẽ phải đi vòng qua chip Northbridge trên mainboard.
Nhưng các CPU dòng Lynnfield dùng socket hoàn toàn mới LGA1156 (thay vì LGA1366 của Core i7-900 Series). Bạn sẽ phải ngạc nhiên trước tốc độ đưa ra socket CPU mới quá nhanh của Intel. Socket LGA775 được xài từ năm 2004. Mãi tới tháng 11-2008, với Core i7, Intel mới tung ra Socket LGA1366, và 10 tháng sau đã có thêm LGA1156.
Tuy có đóng gói nhỏ hơn Core i7-900 Series và bằng Core 2, nhưng các CPU Lynnfield có kích thước die tới 296mm2 và có 774 triệu transistor (trong khi Core i7-900 Series có die 263 mm2 với 731 triệu transistor). Cũng phải thôi, vì từ dòng vi xử lý này, Intel đã cho tích hợp các cổng giao tiếp đồ họa PCI Express vào thẳng nhân xử lý rồi.
Mặc dù cũng thuộc gia đình Nehalem như Core i7-900 Series, nhưng dòng CPU Lynnfield có những thay đổi về kiến trúc, theo hướng giảm bớt cho phù hợp với đối tượng người dùng mà nó nhắm tới cũng như với mức giá thành của dòng entry-level.
Tuy vẫn ứng dụng công nghệ kết nối nội bộ mới chip-to-chip như Core i7-900 Series để thay thế cơ chế bus hệ thống bề mặt front side system bus (FSB) giờ đã chậm chạp của các thế hệ CPU trước đây, nhưng các CPU Lynnfield không dùng đường truyền dữ liệu Intel QuickPath Interconnect (QPI) tốc độ cao mà được trang bị giao diện Direct Media Interface (DMI) chậm hơn gần một nửa. Thật ra, điều này cũng là tất nhiên. Ở nền tảng chipset X58, việc liên lạc giữa vi xử lý và chip Northbridge được thực hiện thông qua kênh QPI cực nhanh, trong khi kênh DMI được sử dụng để làm việc giữa 2 chip Northbridge và Southbridge của chipset. Bây giờ, ở Lynnfield, khi mà các làn PCI Express đã được tích hợp thẳng vào vi xử lý, nhu cầu băng thông giữa vi xử lý với chipset giảm xuống, chỉ cần giao diện DMI đã là đủ rồi.

 

Hơn nữa kể từ nền tảng Lynnfield, Intel bắt đầu sử dụng giải pháp chip đôi (dual-chip), nghĩa là máy tính chỉ còn 2 con chip là vi xử lý và chipset. Từ nền tảng X58 trở vê trước, bộ chipset gồm 2 chip Northbridge và Southbridge (ICH). Còn bây giờ, chipset chỉ còn lại 1 chip Southbridge với tên mới gọi là platform controller hub (PCH), đầu mối của tất cả các kết nối còn lại của hệ thống. Con chip có tên mã là Ibek Peak này giờ đây chịu trách nhiệm điều khiển 14 cổng USB 2.0, 8 làn PCI-Express x1, Gigabit LAN, HD audio và 6 cổng SATA-II.
Riêng Core i5-750 cũng bị cắt đi tính năng hỗ trợ công nghệ siêu phân luồng Hyper-Threading (HT) mới được phục hồi ở Core i7. Tuy cũng được tích hợp bộ điều khiển bộ nhớ vào ngay trong chip vi xử lý như Core i7, nhưng thay vì hỗ trợ 3 kênh bộ nhớ (triple-channel), các CPU Lynnfield chỉ hỗ trợ 2 kênh bộ nhớ (dual-channel).
Có một sự cải tiến đặc biệt, bên cạnh kênh nối trực tiếp với bộ nhớ đã được tích hợp vào ngay nhân vi xử lý ở Core i7-900 Series (thay vì nằm ở bộ chipset như trước), dòng vi xử lý Lynnfield còn được tích hợp kênh riêng để làm việc thẳng với các card đồ họa giao tiếp PCI Express 2.0. Kênh này có thể hoạt động một mình với 16 làn và băng thông 16GB/s (với cấu hình 1 card đồ họa x16), hay tách làm 2 đường 8 làn và băng thông 8GB/s (khi gắn 2 card đồ họa theo công nghệ SLI và CrossFire).
Điều nổi bật là Core i5 sẽ mang lại hiệu quả sử dụng cao tính trên chi phí. Nó cũng hỗ trợ tính năng tự động overclock Turbo Boost như Core i7, nhưng thay vì chỉ cho phép tăng hệ số (multiplier) thêm tối đa 2 cấp như ở Core i7-900 Series, Core i5-750 hỗ trợ tăng tới 4 cấp. Cụ thể là với tốc độ danh định 2,66GHz, Core i5-750 có hệ số 20x, nhưng có thể thiết đặt lên mức 24x để chạy với tốc độ 3,2GHz (tùy theo công suất nguồn và hệ thống tản nhiệt). Core i5 có công suất tiêu thụ điện năng TDP chỉ 95W so với 130W của Core i7-900 Series.
Intel công bố rằng Core i5-750 (2,66GHz) chạy nhanh hơn Core 2 Quad Q9400 (2,66GHz) tới 20%.

 

TEST

HỆ THỐNG THỬ NGHIỆM:
- Mainboard: Gigabyte P55-UD6. (CPU đối chứng: Intel Core i7-920 (Quad Core 2,66GHz; QPI 4,8GT/s; L3 cache 8MB; 45nm; Socket LGA1366) và Intel Core i7-965 Extreme Edition (Quad Core 3,2GHz; QPI 6,4GT/s; L3 cache 8MB; 45nm; Socket LGA1366) trên mainboard Gigabyte EX58-UD3R.)
- RAM: Bộ nhớ Kingmax DDR3-1333 4GB (2GB x 2), chế độ Dual-Channel.
- HDD: Ổ đĩa cứng Western Digital 250GB SATA-II, tốc độ quay 7200RPM, bộ nhớ đệm 8MB.
- Graphics: Card tăng tốc đồ họa MSI GeForce 9600 GT, PCI-Express, 1024MB GDDR3 256-bit.
- Hệ điều hành: Windows Vista Ultimate SP2 64-bit, DirectX 10.
- Bộ tản nhiệt: CoolerMaster.

KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM:
Benchmark sức mạnh hệ thống
PCMark Vantage Professional ver. 1.0.1.1



Benchmark sức mạnh đồ họa
3DMark Vantage Professional build 1.0.2.1



Benchmark hoạt động thiết bị
Dùng SiSoftware Sandra Pro Business SP4 2009.9.15.124 để benchmark sức mạnh vi xử lý.



Dùng EVEREST Ultimate Edition 5.00 Build 1650 để benchmark sức mạnh của bộ nhớ và hoạt động của ổ đĩa cứng.



Benchmark khả năng dựng hình
CineBench Release 10 của hãng Maxon sử dụng một cách rộng rãi những thuật toán và lệnh để test sức mạnh tổng thể của vi xử lý và card đồ họa trong điều kiện thế giới thực. Nó hỗ trợ tới 16 CPU hay nhân CPU.

 

Khả năng Overclock của dòng vi xử lý Lynnfield với tính năng Turbo Boost

Test Game

 

 

 

SAYS
Không chỉ có ưu thế về giá, Intel Core i5-750 làm chúng tôi ngạc nhiên về sức mạnh của nó. So với Core i7-920 có giá đắt hơn 44%, nó hầu như chẳng chịu thua kém là bao, thậm chí có những tác vụ, những ứng dụng còn nhỉnh hơn. Rõ ràng việc tích hợp bộ điều khiển PCI Express đồ họa vào ngay vi xử lý đã tăng thêm sức mạnh xử lý đồ họa cho Core i5-750, đến mức người ta phải trầm trồ: Lynnfield là dòng vi xử lý dành cho game! Khả năng hỗ trợ video HD của Core i5-750 quả là đáng quan tâm. Với Core i5, phân khúc máy PC mainstream đã được nâng cấp cả về sức mạnh lẫn công nghệ một cách thuyết phục.
Core i5 quả là bộ vi xử lý “tốt nhất thế giới” hiện nay, xét về cả giá lẫn khả năng hoạt động.


DIGIMART SAYS:

Not only advantage in price, Intel Core i5-750 also makes us surprise with its power. Compared to Core i7-920 at 44% more expensive, it does not lag much behind, even better tasks and applications. It’s clear that the integration of PCI Express graphics controller directly into the processor has increased the graphics processing strength for Core i5-750, to the extend that makes people admire: Lynnfield is the processor series for games! The HD video support ability is really worth interest. With Core i5, mainstream PC segment has been upgraded both in strength and technology in a persuasive way.

 TESTER@ PHP

NHÀ SẢN XUẤT: Intel, www.intel.com.
MUA Ở ĐÂU? Các siêu thị, cửa hàng máy tính.

Last Updated ( Monday, 23 November 2009 03:09 )  

Quảng cáo

 
 
 
 




 
 

banner